Hướng dẫn đề bài thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng bài tập làm văn bài viết số 6 lớp 10 đề 3 hay nhất có dàn ý và bài làm

Là người Việt Nam ta rất tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua bao nhiêu năm với bao nhiêu gian khó với nhiều lần đánh đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi mà nhân dân ta đã lập được rất nhiều chiến công hiển hách thể hiện sức mạnh dân tộc và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Chúng ta với lòng yêu nước, căm thù giặc đã không quản ngại khó khăn, hi sinh đến quên mình vì quê hương đất nước. Điều đó thật đáng khâm phục và ngợi ca. Chính vì thế có biết bao chiến thắng như trận đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền hay chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa của vua Quang Trung đánh quân Thanh. Từ bao đời nay truyền thống đánh giặc bảo vệ quê hương đất nước luôn là một nét đẹp của đất nước ta. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 chúng ta thường gặp đề thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng bài viết số 6 lớp 10 đề 3. Dưới đây là dàn ý và bài làm cho đề bài này mong rằng sẽ giúp các bạn có một định hướng đúng và một bài làm tốt. Để làm được đề bài này ta sẽ thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu cuộc đời, sự nghiệp văn chương cùng tác phẩm Phú sông Bạch Đằng gồm thể loại, hoàn cảnh, giá trị về nội dung và nghệ thuật.

Bài viết số 6 lớp 10 đề 3: Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

DÀN Ý: THUYẾT MINH VỀ TÁC GIẢ TRƯƠNG HÁN SIÊU VÀ TÁC PHẨM PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG BÀI VIẾT SỐ 6 LỚP 10 ĐỀ 3
1.MỞ BÀI:
Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng.

2.THÂN BÀI:
  • Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu
  • Gia đình
  • Cuộc đời
  • Sự nghiệp
  • Giới thiệu tác phẩm Phú sông Bạch Đằng
  • Thể loại phú
  • Hoàn cảnh
  • Giá trị nội dung
  • Giá trị nghệ thuật

3.KẾT BÀI:
Khẳng định giá trị của tác phẩm và tầm nhìn của tác giả

BÀI LÀM: THUYẾT MINH VỀ TÁC GIẢ TRƯƠNG HÁN SIÊU VÀ TÁC PHẨM PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG BÀI VIẾT SỐ 6 LỚP 10 ĐỀ 3
Tôi rất tự hào về quê hương mình, tự hào về truyền thống cứu nước của dân tộc.Một đất nước với tình yêu quê hương đất nước sâu sắc. Đó là những chiến thắng mang đậm tinh thần dân tộc. Chiến thắng vẻ vang trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền đã khẳng định nước ta không hề yếu mà vô cùng mạnh. Và chiến thắng ấy đã được đi vào trong trang thơ của các nhà thơ. Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu đã khắc họa rõ chiến thắng ấy.

Trương Hán Siêu năm sinh không rõ nhưng mất vào năm 1354 tự là Thăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh nay thuộc thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Trương Hán Siêu xuất thân là một môn khách của Trần Quốc Toản, làm quan dưới bốn đời vua Trần và tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần 2, 3 và lập được nhiều chiến công. Năm 1308 ông được vua Trần Anh Tông bổ làm Hàn lâm học sĩ. Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu thường gọi ông là “thầy”. Là một bậc tú nho, một trong những nhân vật chính trị, văn hóa lớn đương thời. Tuy không đỗ đạt cao nhưng ông lại là một học giả uyên thâm, có tư tưởng tôn Nho và bài trừ những yếu tố tham hóa của Phật giáo đương thời đề cao ý thức quốc gia được mọi người yêu quý và kính trọng.

Bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu được viết theo thể phú có nguồn gốc từ Trung Quốc, trung gian giữa thơ và văn xuôi nhưng nghiêng nhiều về trữ tình. Đặc điểm của thể này là tả cảnh vật, phong tục kể sự việc, bàn chuyện đời, miêu tả khoa trương, hình tượng nhân vật tượng trưng cao độ, triết lí bàn bạc cao xa, ngôn ngữ đậm đặc điểm cổ nên các bài phú chữ Hán trở nên gần gũi, mộc mạc và giản dị trong phú chữ Nôm. Phú gồm có hai loại là phú cổ thể và phú đường luật.

Bài Phú sông Bạch Đằng được sáng tác sau chiến thắng Bạch Đằng được viết thời Trần Dụ Tông khi triều Trần đang trong thời kì suy vong. Chính vì thế là đại thần mang trọng trách lớn, địa vị cao, công lao nhiều mà không có cách gì làm cho triều đình trở lại quang minh nên ông cảm thấy hổ thẹn, hổ mặt với người xưa nhất là trước lịch sử Bạch Đằng, âm hưởng hào hùng như vẫn còn sục sôi cuộn cháy.

Bài được chia làm bốn phần gồm mở, giải thích, bình luận và kết. Mở là tráng trí và cảm xúc của nhân vật khách trước cảnh sắc trên sông Bạch Đằng. Giải thích là trận Bạch Đằng qua sự hồi tưởng của các bô lão. Bình luận là suy ngẫm và bình luận của các bô lão về nguyên nhân làm nên chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Kết là lời ca của bô lão và khách khẳng định vai trò đức độ của con người.

Nhân vật khách sự phân thân của tác giả với mục đích thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên xuất hiện trong không gian biển lớn giương buồm giong gió, lướt bể chơi trăng. Không gian sông hồ với Ngũ Hồ, Nguyên Tương. Những vung đất nổi tiếng của Trung Quốc như Tam ngô Bách Việt, đầm Vân Mộng,.. hay những địa danh của Việt Nam Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng các địa danh cụ thể, hình ảnh cụ thể. Với các từ miêu tả chơi vơi, mải miết, tha thiết, tiêu dao, thướt tha được sử dụng với tần suất dày đã mở ra một không gian tung hoành cho khách. Đó là không gian nghệ thuật bốn phương, mênh mông, bát ngát thơ mộng và tràn đầy ánh trăng. Các hình ảnh thời gian sớm ở Nguyên Tương, chiều thăm Vũ Huyết. Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên thật đẹp “bát ngát…ba thu” đó là dòng sông thơ mộng, hùng vĩ, diễm lệ, hoành tráng. Nhìn hai bên sông là “bờ lau, xương khô” là Bạch Đằng hoang vu, đìu hiu, lạnh lẽo, Bạch Đằng của cõi chiến trường xưa chốn tử địa của quân thù.

Trận chiến Bạch Đằng qua lời kể các bô lão với quân ta xuất thân với khí thế hào hùng “hùng hổ sáu quân” sức mạnh khí thế như hổ báo của các chiến sĩ thời nhà Trần, với lòng yêu nước với sức mạnh chính nghĩa. Còn quân địch ra oai “Những tưởng gieo roi một lần/ Quét sạch Nam bang bốn cõi” sự huênh hoang, hung hang kiêu ngạo. “Thế cường” với bao mưu moi chước quỷ.

Nhưng các bô lão lại suy ngẫm thời thế thuận lợi trời cũng chiều người, địa thế núi sông trời đất cho nơi hiểm trở, con người có tài có đức lạ giữ vai trò quyết định quan trọng. Tác giả gọi lên hình ảnh Trần Quốc Tuấn và những hình ảnh so sánh với người để khẳng định sức mạnh, tài năng và đức đạo của con người.
Lời ca của các bô lão khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông và những chiến công, sự lĩnh hằng của chân lí “Bất nghĩa tiêu vong, anh hùng lưu danh thiên cổ”. Lời ca ngợi của khách cũng tiếp nối niềm tự hào về non sông hùng vĩ nhưng thể hiện quan niệm về nhân tố quan trọng trong công cuộc đánh giặc giữ nước là con người mà rõ hơn là người anh hùng.

Bài phú với nhân vật khách cách đối đáp, dùng hình ảnh điển cố có sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn yếu tố trữ tình hoài cổ với yếu tố tự sự tráng ca lối diễn đạt khoa trương mà làm rõ hào khí nhà Trần âm hưởng không khí chiến thắng trên sông Bạch Đằng.

Đọc xong bào phú mà đọng lại trong lòng người đọc bao cảm xúc về con người, quê hương đất nước. Vì thế chúng ta ngày nay phải có ý thức xây dựng quê hương đất nước phát triển hơn.

Ngoài ra trong bài viết số 6 các bạn cũng có thể tham khảo khá nhiều các bài văn mẫu khác trong mục Văn mẫu lớp 10 của vforum.vn nhé nếu được lựa chọn đề thì bạn cũng có thể chọn những đề mình yêu thích.