Hướng dẫn cảm nhận và phân tích bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu hay nhất có bài viết tham khảo

Mùa xuân đến trong sự chào đón của đất trời và của cả lòng người. Đề tài mùa xuân có lẽ đã quá quen thuộc trong nền văn học từ xưa đến nay. Khi những cánh én chao nghiêng trên bầu trời, khi những cánh đào, cành mai khoe sắc thắm, khi cơn gió xuân ấm áp mơn man trên mái tóc, những vần thơ về mùa xuân lại được cất lên để ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, diễn tả niềm vui say, háo hức của con người khi mùa xuân đến. Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Là một thi sĩ của tình yêu và tuổi trẻ, không lí gì ông lại không yêu mùa xuân. Bằng một hồn thơ trẻ trung, tươi mới, ông đã đưa người đọc đến một vườn xuân tràn ngập ánh sáng, rực rỡ hương thơm, ngỡ như một thiên đường trên mặt đất. Từ đó, ông bày tỏ quan niệm về lối sống vội vàng để tận hưởng hết mọi phút giây hạnh phúc trên trần giới. Dưới đây, mình sẽ hướng dẫn các bạn phân tích bài thơ “Vội vàng”- bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu.

Văn lớp 11: Phân tích cảm nhận bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

BÀI VĂN PHÂN TÍCH CẢM NHẬN BÀI THƠ “VỘI VÀNG” HAY NHẤT
Khi viết lời đề tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, Thế Lữ đã nồng nhiệt khẳng định: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người, lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần, ông đã không trốn trành mà còn quyến luyến cõi đời này”. Xuân Diệu xuất hiện trên văn đàn thơ lãng mạn Việt Nam 1930- 1945 như một ông hoàng thơ tình, một thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu. Đến với thơ của ông, chúng ta bắt gặp một hồn thơ trẻ trung, tươi mới, luôn khao khát giao cảm với đời đến mãnh liệt. “Vội vàng” là bài thơ thể hiện tập trung và rõ nét nhất phong cách thơ Xuân Diệu.

“Vội vàng” lấy đề tài quen thuộc là mùa xuân. Mùa xuân trong thơ cổ thường gắn với trạng thái nhàn nhã, vô tư của thi nhân xưa. Còn trong phong trào thơ mới, nếu như Chế Lan Viên thù ghét mùa xuân mà khắc khoải tìm về “ thu trước xa lăm lắm” bao nhiêu thì Xuân Diệu lại say đắm mùa xuân bấy nhiêu. Mở đầu bài thơ, thi sĩ đã bộc lộ cái tôi trữ tình ấy một cách đầy táo bạo:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Những câu thơ cho thấy một sự tân kì, mới lạ chưa từng có trong thơ ca truyền thống. “Tôi muốn” lặp lại hai lần diễn tả cái khao khát mãnh liệt muốn đảo ngược thiên nhiên, chặn vòng quay của vũ trụ và đoạt quyền tạo hóa để buộc lại dòng thời gian niên viễn không ngừng, để níu giữ mọi vẻ đẹp của trần thế đang thời tươi sắc. Có thể nói qua khao khát có phần ngông cuồng và phi lí ấy, Xuân Diệu đã thể hiện quan niệm sống trọn vẹn với mỗi phút giây hiện tại, xua tay chối từ quá khứ và cuộc đời phẳng lặng, nhạt nhẽo. Nếu khi xưa, các nhà thơ thường chỉ sử dụng thị giác và thính giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì thi sĩ thời Thơ mới “ thức nhọn mọi giác quan” để thưởng thức trọn vẹn mọi vẻ đẹp và sự say đắm, quyến rũ hồn người của vạn vật lúc xuân sang:
“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si...
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Sự sống căng tràn, gợi cảm đang phơi bày trước mắt đầy mời gọi, hấp dẫn. Những vẻ đẹp được miêu tả với những tính từ giàu sức biểu cảm đã thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của Xuân Diệu, cảnh vật trở nên ngập tràn màu sắc, cuộn trào sức sống. Mùa xuân qua cặp mắt xanh non, rờn biếc của thi sĩ là bức tranh rực rỡ sắc màu,chói lòa ánh sáng, nồng nàn hương thơm và rộn rã âm thanh. Đang chìm trong ngập tràn xuân sắc, giọng thơ đang sôi nổi bỗng trầm xuống trong nỗi lo âu sắc xuân sẽ qua đi, sẽ phai tàn:
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...”
Câu thơ định nghĩa rất mới, rất Tây, mạch cảm xúc gắn với mạch triết luận, thể hiện khát vọng muốn cắt nghĩa, truy nguyên cội nguồn sự chảy trôi của thời gian. Bằng những cặp từ đối lập tương phản, nhà thơ thể hiện một quan niệm vừa quen vừa lạ. Quen vì người xưa cũng từng thở than: xuân thì bất tái lai. Lạ là bởi vì đó là tiếng lòng của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân và tuổi trẻ là tất cả của mình, cho nên thi sĩ thở dài tiếc nuối vì mùa xuân của đất trời thì tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, cho nên khó tránh khỏi cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối. Đó là những cảm xúc chỉ có ở một tâm hồn ham sống, yêu cuộc đời, yêu tuổi trẻ. Xuân Diệu đã căng mở tất cả các giác quan, toàn tâm toàn ý để cảm nhận sự chảy trôi của thời gian. Hiểu được sự hữu hạn của đời người, sự ngắn ngủi của tuổi trẻ, ông đã đưa ra triết lí sống đẹp là phải sống vội để có thể tận hưởng hết mọi vẻ đẹp, niềm hạnh phúc trên trần thế này.

Đoạn cuối cùng, nhà thơ bỗng chuyển từ “tôi” sang “ta”, nhịp thơ nhanh, dồn dập, gấp gáp, giọng thơ sôi nổi say mê của một con người xanh tuổi trẻ lòng:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Xuân Diệu thể hiện khao khát mãnh liệt muốn dang rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn để ôm cho khắp, thâu cho trọn, riết cho chặt cả cuộc sống đang thời tươi sắc. Cả đoạn thơ tràn ngập những động từ, từ láy diễn tả những hành động, trạng thái, đặc biệt là những cảm xúc nhục thể là sản phẩm của nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Chính những câu thơ ấy tạo cho ta cảm giác về một dòng sông cảm xúc đang dâng trào dữ dội, để rồi kết thúc bài thơ trong sự ấn tượng và bất ngờ. Trong thơ Xuân Diệu, mùa xuân đầy mời gọi, hấp dẫn trong cặp môi thắm, má hồng. Hình ảnh xuân hồng với từ “cắn” khiến người đọc xen chút giật mình vì tứ thơ độc đáo, thể hiện khao khát mãnh liệt: được sống để yêu.

Với “Vội vàng”, Xuân Diệu đã đem đến cho nền văn học Việt Nam một làn gió mới lạ, thật tân kì, thật trẻ trung, thật tươi mới. Qua bài thơ, ta còn bắt gặp hình ảnh một cái tôi trẻ tuổi trẻ lòng với cặp mắt xanh non và rờn biếc đang thức nhọn mọi giác quan để cảm nhận mọi vẻ đẹp của trần thế, cùng với quan niệm sống vội vàng, sống hết mình để hưởng thụ từng phút giây hiện tại của tuổi trẻ và hạnh phúc.


BÀI VĂN PHÂN TÍCH BÀI THƠ “VỘI VÀNG” HAY NHẤT
Nhắc đến Xuân Diệu, không thể không nhắc tới Vội vàng. Một trong những bài thơ đầu tay trong sự nghiệp của nhà thi sĩ và được Thế Lữ đáng giá là bông hoa đầu mùa mà nhà thi sĩ ấy tặng cho nhân gian.

Trong bầu trời Văn học, Xuân Diệu là một ngôi sao sáng lấp lánh trong hàng vạn các vì sao. Thu hẹp lại trong vũ trụ của thi ca, đặc biệt là thi ca hiện đại Việt Nam thì càng cần phải nói đến nhà thơ như một anh hùng mang sứ mệnh đổi mới. Những sáng tác của thi sĩ ra đời trong những năm ba mươi của thế kỉ trước, khi xa hội Việt Nam trải qua một cơn giông tố cả về đời sống chính trị và văn hóa xã hội. Những tư tưởng phóng khoáng phương Tây đã thâm nhập vào hồn ta, hơn cả là ở những nhà thi sĩ, những tâm hồn nhạy cảm đang bơ vơ lạc lõng tìm kiếm lẽ sống giữa buổi gian nan. Những vần thơ khuôn phép của mấy mươi thế kỉ trước đã đi vào dĩ vãng, trả lại diễn đàn cho những vần thơ táo bạo và mới mẻ, đề cao cái tôi cá nhân, quan tâm đến đời sống của con người nhiều hơn thay vì những quan niệm về thiên mệnh của xã hội phong kiến phương Đông. Xuân Diệu cũng là một trong số những nhà thơ sớm được tiếp thu tinh hoa ấy. Những vần thơ của nhà thơ thể hiện một tâm hồn băn khoăn, rạo rực; một trái tim yêu đời và yêu sống, yêu đến đắm say, nồng nàn nhưng cũng đầy suy tư, triết lí. Điều đó được thể hiên rất rõ trong Vội vàng.

Bài thơ được in trong tập Thơ thơ xuất bản năm 1938, khi quá trình hiện đại hóa thơ ca nói riêng và văn học nói chung đạt những thành tựu rực rỡ. Khi ấy, Xuân Diệu mới chỉ là một chàng trai hai mươi hai tuổi. Vội vàng được viết nên bởi một tâm hồn trẻ tuổi , trẻ lòng, bởi vậy mà nhà thi sĩ đã từng chia sẻ: “ Đây là lòng tôi đương thời sôi nổi. Đất là hồn tôi vừa lúc ngân vang. Và đây là cả cuộc đời tôi nữa… Tôi dành bài thơ tặng các bạn trẻ tuổi trẻ lòng.”

Mở đầu bài thơ là những khát khao mà chủ thể trữ tình “tôi” trực tiếp bày tỏ:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Chủ thể trữ tình hay chính là nhà thơ có mong muốn được “ tắt nắng đi” và “ buộc gió lại”. “Tắt” và “buộc” là những động từ chỉ hoạt động thường đi kèm với những vật thể có hình dạng, hình khối mà ta có thể cầm, nắm được như : tắt đèn, buộc dây,… Nhưng trong khổ thơ này, Xuân Diệu lại dùng “tắt” và “buộc” với những hiện tượng của tự nhiên là nắng và gió. Đó là những thứ ta chỉ có thể cảm nhận bằng xúc giác thông qua cảm giác chứ không thể cầm, nắm được. Và quan trọng hơn cả là nhà thơ muốn “tắt nắng đi” và “ buộc gió lại” là để cho “ màu đừng nhạt mất” và “hương đừng bay đi”, tức là níu giữ lại những vẻ đẹp của cuộc đời là những màu sắc rực rỡ và hương thơm của đất trời hoa cỏ. Câu trần thuật trực tiếp thể hiện mong muốn của nhà thơ “ tôi muốn…” rất rõ ràng và ngắn gọn, Xuân Diệu bày tỏ khát khao ước vọng của lòng mình một cách giản dị nhất, chân thành nhất nhưng cũng cháy bỏng và mãnh liệt nhất. Thể thơ năm chữ, câu thơ ngắn, nhịp thơ nhanh kết hợp với điệp cấu trúc : “ Tôi muốn…/ Cho…” cũng như lối diễn đạt cụ thể, trực tiếp rất mới rất Tây đã thể hiện một khát khao mãnh liệt và táo bạo của nhà thi sĩ, muốn đoạt cả qui luật của vũ trụ, muốn điều khiển cả những hiện tượng thiên nhiên. Nếu như ta đã từng thấy trong thơ cổ những khát vọng trí quan, trạch dân, giúp nước cứu đời, những khát vọng kinh bang tế thế :
“ Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”
( Cảm hoài – Đặng Dung)
Thì nay, trong thơ Xuân Diệu, ta lại thấy một khát vọng thật bay bổng, là cái khát vọng của nghệ sĩ. Khát khao níu giữ lại cái thanh sắc của thời tươi, vẻ đẹp của trần thế. Là cái xua tay chối từ một cuộc sống nhạt nhẽo, mọi thứ đều lưng chừng lỡ cỡ tục như một cái “ ao đời phẳng lặng”. Hay cũng chính là khát khao muốn níu giữ lại thời gian chảy trôi bất biến không ngừng. Phải là một người yêu đời, yêu sống, yêu cái đẹp thắm hương đượm sắc biết mấy, nhà thi sĩ mới có thể viết nên những vần thơ đầy rạo rực và cháy bỏng đến thế!

Nếu như bốn câu thơ đầu là những khát vọng níu giữ cái đẹp của nhà thơ thì tám câu thơ tiếp theo là một “ khúc nhạc thơm” thể hiện niềm sung sướng, say mê trước cái đẹp của thiên nhiên mùa xuân như một thiên đường trên mặt đất. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân hiện lên với muôn vàn những sắc màu tươi mới, rực rỡ. Nào là ong bướm, nào là hoa, là đồng nội xanh rì, là những lá và cành tơ phơ phất, là chim yến chim oanh với những “ khúc tình si”. Hiện lên theo những vần thơ là khung cảnh thiên nhiên mùa xuân vô cùng tươi đẹp, nô nức và rộn ràng sự sống. Đó giống như bức tranh về một khu vườn mùa xuân ngập tràn ánh sáng, niềm vui, tràn đầy màu sắc, sức sống mơn mởn, non tơ, ngọt ngào trong vị và ngạt ngào trong hương . Một thiên nhiên sáng trong và tràn đầy sức sống. Thể thơ tám chữ làm cho câu thơ được nới rộng, mở ra một không gian bao la thấm đượm xuân sắc, xuân tình. Điệp từ “ này đây” kết hợp với phép liệt kê tạo nên một giọng thơ sôi nổi, thiết tha, tràn đầy niềm say mê của một người trẻ tuổi, trẻ lòng; nhịp thơ nhanh, gấp gáp, hơi thơ liền mạch,.. Tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân đầy đắm say, quyến rũ được nhìn qua cặp mắt” xanh non và rờn biếc” của chàng trai trẻ lần đầu tiên phát hiện ra thế giới này. Bên cạnh đó, hình ảnh thơ đẹp, sóng đôi theo phép tu từ ẩn dụ: ong bướm- tuần tháng mật; hoa- đồng nội xanh rì; lá- cành tơ; yến anh- khúc tình si; ánh sáng-thần Vui;… còn tạc nên một lớp nghĩa bóng bẩy cho toàn đoạn. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân hiện lên với những ngọt ngào và si mê hay cũng còn có thể hiểu là cái ngọt ngào, hạnh phúc của lứa đôi, là niềm si mê, say đắm của đôi lức trong hạnh phúc. Hay là cái thuần khiết, non tơ, thanh tân, trẻ trung như hoa đồng nội; là cái trong trẻo, tinh khôi, tinh nguyên, dịu dàng và rất đỗi tươi mới như là ánh sáng mùa xuân. Có thể thấy thi sĩ Xuân Diệu của ta đã “ thức nhọn các giác quan”, cảm nhận bằng cả cảm giác và cảm xúc để mở hồn mình ra, đón lấy những điều đẹp đẽ, tươi mới ở đời. Dù là bức tranh thiên nhiên ngập tràn ánh sáng và sự sống, hay là vườn đời ngập tràn xuân sắc, rạo rực xuân tình ; qua những vần thơ ráo riết, dồn dập, người đọc có thể cảm nhận được tình yêu tha thiết, si mê của nhà thơ dành cho cuộc đời hệt như tình yêu của tình nhân dành cho tình nhân trong tình ái mà trong đó, hình tượng trung tâm là người thiếu nữa mắt trong, môi thắm:
“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Hình ảnh so sánh hết sức độc đáo” tháng giêng” với “ cặp môi gần”. Đó là cặp môi tươi thắm , căng mọng thanh xuân của cô thiếu nữ, một đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp tràn đầy sức sống. Nói “ tháng giêng ngon như một cặp môi gần” , tức là khẳng định và nhấn mạnh cái đẹp khiến người khác đắm say của thiên nhiên mùa xuân; đồng thời thể hiện tình yêu si mê sâu sắc của nhà thi sĩ đối với cuộc đời.

Bức tranh khu vườn mùa xuân hiện lên đẹp đẽ, lung linh như một thiên đường trên mặt đất. Ở ngay đây, trên trần gian này, chứ không phải ở một cõi xa xôi xa thẳm nào khác. Ta đã từng đi qua hơn mười thế kỉ với những vần thơ thấm đượm những nỗi buồn thiên cổ:
“ Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
( Truyên Kiều- Nguyễn Du)
Thơ của cổ nhân thường mang những nỗi sầu, một nổi sầu ăn sâu bám rể trong lòng những tâm hồn nghệ sĩ nặng lòng với cuộc đời thế sự, nặng lòng với nhân dân, đất nước. Hay trong chính thời đại mà Xuân Diệu sống và sáng tác, Thế Lữ vẫn mải mê đi tìm cái đẹp ở một chốn xa xôi, vẫn luôn cho rằng mình là người du khách đi du ngoạn trần gian và sớm muộn cũng sẽ trở về quê hương của mình là chốn Bồng lai Tiên cảnh; Chế Lan Viên vẫn đau đáu giấu mình trong tinh cầu giá lạnh với những kí ức về một Chiêm Thành đẹp đẽ đã lùi về quá khứ xa xôi; còn nhà thơ chân quê Nguyễn Bính luôn sống trong hoài niệm về những vẻ đẹp của quê hương, dân tộc ở những “ thời ấy”. “ thuở xưa”. Xuân Diệu không như thế. Ông quan niệm cuộc đời đẹp ngay ở khoảnh khắc này, ngay trên mảnh đất này, chính ở thực tại chứ không phải là chốn thiên đường hay là trong quá khứ hay sẽ ở trong tương lai. Cuộc đời đẹp ngay giữa thực tại nó vốn có. Bởi thế, nhận xét về Xuân Diệu, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã khẳng định Xuân Diệu là người “ xây lầu thơ ngay trên hồng trần; đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới.” Với Xuân Diệu, cuộc sống giống như một thiên đường. Chính cái nhìn lạc quan, mới lạ này đã khiến nhà thơ trở thành “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”( Hoài Thanh).

Mạch cảm xúc của bài thơ men theo mạch cảm xúc và tư duy của người nghệ sĩ. Khát khao níu giữ cái đẹp, sung sướng, si mê trước khung cảnh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, đến đoạn thơ thứ ba, giọng thơ bỗng trùng xuống, lắng lại trong một niềm tiếc nuối, tha thiết ngậm ngùi: tiếc xuân. Đó là một trạng thái logic, có thể thấu hiểu được của cảm xúc con người, đặc biệt lại là người nghệ sĩ với tâm hồn tinh tế và nhạy cảm gấp bội phần. Khi đứng trước một điều đẹp đẽ, sau khi say mê vui thích sẽ là cảm giác lo lắng, tiếc nuối, lo sợ điều đẹp đẽ ấy sẽ biến mất đi. Khổ thơ thứ hai là bức họa tuyệt mĩ về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân sáng trong, tươi mới như một thiên đường trên mặt đất đã là tiền đề cho cảm xúc nuối tiếc cái đẹp, nuối tiếc thời xuân ở đoạn thơ tiếp theo.Dù say đắm cảnh xuân, thờ xuân và tình xuân, nhưng tiềm thức người nghệ sĩ luôn tự nhắc nhở mình về sự chảy trôi bất biến không ngừng của thời gian. Có phải vì vậy mà Xuân Diệu đã tự nhắc nhở chính mình hay cũng là nhắc nhở mọi người:
“ Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
“ Không chờ nắng hạ mới hoài xuân” là một quan niệm sống hết sức tích cực mà Xuân Diệu muốn gửi gắm: hãy trân trọng những gì đang có, những điều đẹp đẽ đang ở thời hiện tại. Đừng chờ đến khi vuột mất rồi, khi thời tươi qua đi rồi mới ngồi hoài niệm lại những tháng ngày xưa cũ. Và nhà thơ ngậm ngùi nhận ra rằng:
“ Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
Nhịp thơ chậm rãi, câu thơ định nghĩa mới lạ càng làm tăng thêm mạch cảm xúc, thể hiện khát vọng muốn cắt nghĩa, muốn lí giải, muốn truy nguyên về nguyên nhân và cội nguồn của sự chảy trôi của thời gian của nhà thi sĩ. Xuân Diệu ý thức được sự hữu hạn của thời xuân hay cũng chính là tuổi trẻ của con người. Hình ảnh thơ đối lập:” tới”-“ qua”; “non”-“già”, gợi một sự tiếc nuối trước sự bất biến của thời gian vô tình. Thời xuân cũng như tuổi trẻ sẽ dần mất đi, nhưng mùa xuân là quy luật của tự nhiên, mỗi năm sẽ lặp lại một lần. Nhưng còn tuổi trẻ của con người chỉ có một lần và “ chẳng bao giờ thắm lại”, một đi rồi sẽ mãi mãi không trở lại thêm một lần nào nữa.Hệ thống từ trái nghĩa tạo nên những vần thơ thể hiện sự đối lập giữa mùa xuân của đất trời và mùa xuân của đời người. Từ đó cho thấy một trái tim tiếc tuổi xuân, tiếc tuổi trẻ, một tấm lòng thiết tha yêu sống.
Không chỉ tiếc tuổi xuân, thiết tha yêu sống mà hồn thơ Xuân Diệu còn lắng đọng một nỗi tiếc đời đau đáu:
“ Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.”
Hình ảnh thơ gợi thời gian không gian và sự sống kết hợp với hệ thống những ngôn từ gợi cảm giác chia li :” chẳng còn”, “ tiếc” , “ chia phôi”, “ than thầm”, “ tiễn biệt” đã nêu lên một quy luật tất yếu của cuộc sống. Trong hội ngộ có chia li, trong tương phùng có tiễn biệt. Xuân Diệu như đã thổi vào hồn trời đất, sông núi, tháng năm một nỗi buồn li tán trước sự ý thức đúng đắn về sự chảy trôi của thời gian. Nếu như thời gian trong cổ thi là thời gian tuần hoàn và con người ung dung tự tại, an nhiên trước sự chảy trôi đó thì trong thơ Xuân Diệu, Sự chảy trôi của thờ gian đã đánh thức cái tôi thức giấc, run lên, âu lo trước sự vô tình của thời gian tuổi trẻ.Đó chính là biểu hiện cao nhất của một cái tôi yêu đời, thiết tha tuổi trẻ và luôn khao khát được chạy đua với thời gian để giành lại từng cơ hội.
Cuộc sống tuy đẹp như một thiên đường trên mặt đất, nhưng cuộc sống lại quá ngắn ngủi. Bởi vậy sống đẹp chính là biết sống vội vàng:
“Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Câu thơ ngắt giữa bởi một dấu châm than, nhịp thơ mạnh mẽ, dứt khoát, giọng thơ như thúc giục, cổ động.
“ Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mấy đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Cho chuếnh choáng mùi hương
Cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi”
Đại từ nhân xưng “ tôi “ ở đầu bài thơ đã được tha bằng đại từ “ta” gợi hình dựng một cái ta đang dang rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn để ôm cho khắp, để thâu cho hết, riết cho chặt mọi thanh sắc của thời tươi, của mùa xuân tuổi trẻ. Điệp từ “ ta muốn” kết hợp với phép liệt kê làm cho giọng thơ trở lại sôi nổi, say mê như tiếng lòng của chàng trai xanh tuổi , trẻ lòng. Một loạt các động từ cùng trường từ vựng : ôm, riết, say, thâu … kết hợp với hình ảnh thơ sống động, xôn xao: sự sống, mây, gió, cánh bướm, tình yêu,… thể hiện một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, ngập tràn xuân sắc, xuân tình để rồi nhà thơ kết lại bài thơ bằng một câu thơ hết sức đắm say:
“ Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

Mùa xuân hiện lên như một nàng tiên mùa xuân xinh đẹp với đôi má hồng duyên dáng khiến cho một con người rạo rực xuân sắc xuân tình muốn “ cắn”, tức là khát vọng muốn được sở hữu đối với mùa xuân hay cũng chính là cuộc đời và tuổi trẻ như tình yêu của người yêu với người yêu, tình nhân với tình nhân.