Hướng dẫn làm bài tập làm văn số 5 ngữ văn lớp 11, viết số 5 đề 2 lớp 11: Cảm nhận về hình tượng nhân vật Chí Phèo có bài viết tham khảo

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở tỉnh Hà Nam- là vùng đồng bằng chiêm trũng, nhân dân quanh năm nghèo đói, bị ức hiếp, đục khoét. Ông thường mang tâm trạng u uất, bất hòa với xã hội thực dân phong kiến, là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm vô cùng sâu sắc. Nam Cao có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình yêu thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người dân nghèo khổ bị áp bức, bóc lột. Các sáng tác của ông thường tập trung vào hai đề tài chính là người tri thức nghèo và người nông dân nghèo. Truyện ngắn “Chí Phèo” ban đầu có tên là “Cái lò gạch cũ”, sau là “Đôi lứa xứng đôi”, cuối cùng được tác giả đổi thành tên “Chí Phèo”. Tác phẩm dựa vào những việc người thật, việc thật ở làng quê Nam Cao trước cách mạng tháng 8. Đó là giai đoạn xã hội Việt Nam nửa thực dân nửa phong kiến, bọn cường hào, địa chủ thi nhau áp bức dân lành, xã hội đầy những bất công, ngang trái. Sau đây, mình sẽ hướng dẫn các bạn làm bài viết số 5 đề 2 lớp 11: Cảm nhận về hình tượng nhân vật Chí Phèo

Bài viết số 5 đề 2 lớp 11: Cảm nhận về hình tượng nhân vật Chí Phèo


BÀI VIẾT SỐ 5 ĐỀ 2 LỚP 11: CẢM NHẬN VỀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHÍ PHÈO
“Đối tượng của văn học vốn là thân phận con người, nên chỉ có kẻ nào đọc và hiểu nó sẽ hóa thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc”. Con người từ lâu vốn vẫn là đối tượng tìm hiểu và nghiên cứu của văn học. Qua mỗi tác phẩm khác nhau, chúng ta lại có thêm một cái nhìn mới mẻ, một khám phá rất riêng về thân phận con người. Và trong tác phẩm “Chí Phèo”, bằng ngòi bút giàu giá trị hiện thực của mình, Nam Cao đã mang đến những trang văn neo đậu mãi trong lòng người đọc về nhân vật Chí Phèo.

Có thể nói, mảnh đất hiện thực về người nông dân Việt Nam đã được các nhà văn cùng thời Nam Cao đào sâu bới kĩ. Nhưng, khác với các nhà văn hiện thực đương thời, Nam Cao không đi sâu vào khai thác những nỗi khổ thường thấy của người nông dân lúc bấy giờ như sưu cao thuế nặng hay bần cùng khốn khổ vì đói cơm rách áo trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Đứng trước một đề tài quen thuộc, ông đã không chọn theo đường mòn lối cũ mà tìm đến một nơi chưa có dấu chân người. Tiếp cận với “Chí Phèo”, người đọc phải ngạc nhiên trước bao phát hiện vô cùng mới mẻ về bức tranh làng quê Việt Nam. Không ào ào thác đổ, không cuộn trào sóng dữ nhưng tưởng như bao mạch sóng ngầm dưới cái ao tù kia đang sẵn sàng cuốn phăng đi bản tính lương thiện của người nông dân. Đó chính là cái nhìn hiện thực mới mẻ của Nam Cao, là nỗi ám ảnh quặn lên trong từng câu chữ. Một điều gì đó xót xa hơn cả những lời oán trách khổ đau, nhức nhối hơn cả cơn đói và manh áo rách, ấy là thiên lương bị xâm hại và tha hóa nghiêm trọng.

Chí Phèo ngay từ đầu tác phẩm đã hiện lên qua tiếng chửi- một cách mở đầu thật ấn tượng và có sức lôi cuốn người đọc. Hắn chửi trời, chửi làng Vũ Đại, rồi chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn. Thoạt nghe thì có vẻ đay là lời lẽ của một kẻ say rượu nhưng thực chất tiếng chửi của Chí rất có lớp lang, bài bản, từ cao đến thấp, từ xa đến gần, mênh mông, hư vô đến sát sườn, vu vơ đến xác định. Vậy rượu là tác nhân, chứ không phải nguyên nhân, Chí Phèo không phải một kẻ say ăn càn nói quấy, rượu vào lời ra. Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch của kẻ bế tắc cùng đường, bộc lộ nhu cầu giao tiếp dù chỉ là mạt hạng của kẻ lưu manh bị cả cộng đồng hắt hủi, coi như không có hắn trên đời. Đằng sau cái vô thức của kẻ say là phần tỉnh táo của Chí Phèo, là nỗi đau con người sau hình thù quỷ dữ, là khát vọng thiện lương sau những lời nói côn đồ. Tiếng chửi ấy cũng là “tiếng hát thiết tha của một tâm hồn lộn ngược”, vang lên trong vô vọng để tìm kiếm sự sẻ chia, đồng cảm. Giọng văn có phần lạnh lùng, khinh bạc nhưng ẩn sau nó là một trái tim yêu thương, thấu hiểu, thương cảm, xót xa của một tấm lòng đau đời, đau người tha thiết.

Bi kịch bị tha hóa, lưu manh chính là con đường đẩy Chí đến bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Tua nhanh cuốn phim cuộc đời, kể từ lúc bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ đến khi đi làm canh điền cho Bá Kiến rồi chỉ vì ghen tuông vô cớ mà Bá Kiến đẩy anh vào tù tội oan uổng, Chí Phèo đã bị nhà tù thực dân hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính. Chân dung của Chí làm người ta liên tưởng đến một tên côn đồ, lưu manh. Bị đối xử bằng bạo tàn, Chí đã phản kháng bằng bạo tàn. Hình thù gớm ghiếc chuyên kiếm ăn bằng máu của mình và máu của người để rồi cuối cùng bị cuộc đời lìa bỏ. Bên cạnh Chí Phèo còn có Năm Tư, Binh Chức, để ta thấy rằng những con người ấy như một sản phẩm tất yếu của xã hội đương thời với tất cả sự bạo tàn của giai cấp thống trị. Bi kịch ấy đã làm đậm nét, hoàn thiện và sâu sắc hơn bao nhiêu nỗi khổ từ ngàn đời nay vẫn đè nặng lên dáng cấy, dáng cày, để rồi trong lòng người đọc quặn thắt lại một niềm đau đớn, xót xa cho những kiếp người nổi lênh bất hạnh nơi làng quê đã chẳng còn yên bình khi in dấu gót giày của bọn thực dân xâm lược.

Trong chuỗi bi kịch kéo dài ấy, đã có lúc tâm hồn Chí Phèo cháy lên khát vọng được làm người lương thiện. Điều trân trọng và đáng quý ở Nam Cao là khi miêu tả nhân vật bị tha hóa đến chỗ tận cùng, ông vẫn phát hiện ra trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn có, chỉ cần chút lay động là có thể sống dậy mãnh liệt. Sự xuất hiện của Thị Nở- con người xấu “ma chê quỷ hờn” ấy lại là nguồn sáng duy nhất soi rọi vào tâm hồn cằn cỗi của Chí Phèo, làm thức dậy bản tính lương thiện bấy lâu nay bị vùi dập nhưng không tắt hẳn của Chí. Chí Phèo đến với Thị Nở trong một đêm say rượu. Thế nhưng, câu chuyện tình Thị Nở- Chí Phèo sẽ chỉ là “đôi lứa xứng đôi” nếu Thị Nở chỉ làm thức dậy phần bản năng của Chí. Bằng tình yêu thương chân thành, sự chăm sóc giản dị của Thị Nở, phần con đã nhường chỗ để phần người trong Chí bừng dậy mãnh liệt. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy, Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của cuộc sống hàng ngày: tiếng chim hót, tiếng anh thuyền chài đuổi cá, tiếng người đi chợ về... Âm thanh ấy gợi Chí về một thời rất xa xưa, khi hắn còn có cái mơ ước giản dị nhưng thật đẹp: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Trong giây phút tỉnh táo hiếm hoi, Chí nhận ra cái hiện thực đáng buồn: đói rét, ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn cả đói rét và ốm đau. Bát cháo hành tượng trưng cho tình người ấm nóng, chân thành, mộc mạc, giản dị. Bát cháo hành không không chỉ giải cảm mà còn tẩy ố men rượu, hoen mờ tội lỗi, đưa Chí từ quỷ dữ quay về làm người lương thiện. Và hắn thấy bâng khuâng, đã bao lâu rồi hắn mới có cảm giác như thế? Mắt hắn ươn ướt vì hạnh phúc nhỏ nhoi mà có thật. Hắn ao ước có thể hòa nhập với cộng đồng, khát khao về một cuộc sống thiện lương mà Thị Nở đã dẫn đường cho hắn. Như vậy, tình yêu thương đã làm sống lại trong Chí bản chất đẹp đẽ của người lao động không thể bị dập tắt dẫu cho có gió dập sóng vùi.

Và cái kết đau đớn cuối cùng là trên ngưỡng cửa trở về làm người lương thiện, Chí lại bị cự tuyệt quyền làm người. Việc Thị Nở từ chối sống chung như cánh cửa cuộc đời đóng sập trước mắt Chí. Ý thức về quyền làm người quay trở lại, Chí càng hiểu rõ hơn về bi kịch của mình, về nguyên nhân dẫn đến bi kịch ấy: “Tao muốn làm người lương thiện”, “Ai cho tao lương thiện”. Những câu hỏi không lời đáp vút lên đầy cay đắng như đánh thẳng vào bộ mặt xã hội đương thời, làm người đọc không khỏi xót xa về thân phận của biết bao kiếp người nổi trôi vô định. Người xưa từng nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Lương thiện là phần sẵn có trong mỗi con người, vậy mà Chí phải đi đòi lương thiện. Hành động giết Bá Kiến đã cho thấy bế tắc không lối thoát của người nông dân lúc bấy giờ. Chí Phèo dẫu không được sống cuộc sống của người lương thiện nhưng đã chết cái chết của người lương thiện, chết để được lương thiện. Qua đó, tác giả cũng ngầm khẳng định, ngợi ca, trân trọng phẩm giá, bản chất lương thiện, tốt đẹp của người nông dân.

Chí Phèo có tầm ảnh hưởng sâu rộng bởi nó chứa đựng những tư tưởng, tình cảm mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Tác phẩm mãi mãi bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn con người.

BÀI LÀM 2: BÀI VIẾT SỐ 5 ĐỀ 2: CẢM NHẬN VỀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHÍ PHÈO
Nam Cao nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện thực giai đoạn 1930-1945 của nền văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông tuy viết về các đề tài đã cũ được các nhà văn khác đã viết và rất thành công như Ngô Tất Tố, Phạm Duy Tốn…nhưng bằng cách nhìn mới mẻ, hiểu được người nông dân nên dù viết về đề tài đã cũ nhưng người đọc lại cảm thấy vô cùng mới lạ. Tiêu biểu chính là hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên một người dân lương thiện nhưng lại bị xã hội phong kiến làm cho tha hóa.

Người đọc vô cùng ấn tượng cách giới thiệu nhân vật của Nam Cao rất tự nhiên, giữa đường đời đang trôi Nam Cao tình cờ ngang qua và chớp được khoảnh khắc ấy đưa thẳng từ trang đời vào trang viết. Cách giới thiệu độc đáo từ chối cách giới thiệu trực tiếp quen thuộc mà qua tiếng chửi của nhân vật. Chí Phèo chửi trời, đời, làng Vũ Đại, chửi những ai không chửi nhau với hắn, chửi người đẻ ra hắn. Đó là tiếng chửi lớp lang, bài bản, chửi từ cao xuống thấp, từ xa đến gần, mênh mông đến sát sườn, từ vu vơ đến xác định. Từ đó thấy Chí Phèo không phải là người nát rượu mà rượu chỉ là tác nhân là cái cớ. Chí Phèo không chỉ là người mồ côi cha mẹ mà còn bị cả xóm giềng cả đồng loại bốn bên lảng tránh. Thật là tội nghiệp.
Chính vì không được ai quan tâm mà ngoại hình Chí Phèo cũng trở nên khác người. Đầu tóc trọc lốc, rang cạo trắng hớn, mắt đen, cơng cơng, gườm gườm nhìn thật đáng sợ. Quần áo nài đen với áo tây vàng, ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ,.. Đó là chân dung kẻ lưu manh côn đồ bất lương, báo hiệu sự tha hóa về nhân tính.

Là một con người với ngoại hình đáng sợ nên nhân tính của Chí Phèo cũng đáng kinh. Khi ra tù trong đầu hắn chỉ có ý định trả thù bằng cách chửi ngoa ngoắt, thô tục, tàn độc. Hắn còn rạch mặt ăn vạ thể hiện rõ cách trả thù của thằng lưu manh. Nhưng cuối cùng hắn vẫn thua cuộc không trả thù được. Nguyên nhân của kết quả đó là do Chí Phèo dùng thứ vũ khí hạ đẳng, Chí Phèo vùng lên mạnh mẽ và đơn độc. Và rồi hắn lại bị chính kẻ thù của mình thuyết phục để làm việc xấu để có được những đồng tiền uống rượu. Hắn sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để có thể đòi được tiền mặc cho gia đình ấy có khó khăn, bần cùng đến thế nào. Chí Phèo từ một người dân lương thiện mà dần tha hóa trở thành kẻ lưu manh đi rạch mặt ăn vạ và hắn đã bị tất cả người dân làng Vũ Đại lảng tránh vì khiếp sợ giống như sợ Bá Kiến. Từ bao giờ Chí Phèo lại đáng sợ đến thế một người dân lương thiện chỉ vì đồng tiền mà lại trở thành kẻ lưu manh.

Dù thế nhưng Chí Phèo vẫn là một con người vẫn cần đến sự quan tâm chăm sóc từ mọi người, muốn được yêu thương. Chí Phèo vì đêm ngủ ở ngoài vườn gió mạnh mà hôm sau dậy bị ốm, cảm. Lúc tỉnh dậy như được hồi sinh giác quan mắt, tai nghe âm thanh cuộc sống, xúc giác thấy miệng đắng. Hồi sinh cảm xúc buồn nhắc hắn về một cái xa xôi, hồi sinh kí ức về gia đình người thân về một hạnh phúc bình dị nhưng với Chí Phèo mãi mãi là ước mơ, hồi sinh nhận thức về già sự cô độc còn đáng sợ hơn cái đói, ốm đau. Nhưng khi Thi mang cháo vào tâm lí Chí Phèo ngạc nhiên, cảm động, thấy rung động và ăn năn về những hành động sai trái trước đây của mình. Biết cảm nhận cái thơm ngon từ bát cháo hành và hơn hết Chí Phèo cảm nhận được tình yêu thương, quan tâm của con người dành cho con người. Nhưng khi đó Chí Phèo lại nhớ đến Bà Ba một con quỷ khiến Chí Phèo cảm thấy nhục và khinh. Chí Phèo trong quá khứ là một người có tự trọng. Từ đó thấy được khát vọng hoàn lương, hướng thiện, mầm nhân tính trong Chí Phèo có thể bị khuất lấp, dập vùi nhưng không hề biến mất.

Nhưng khát khao được yêu thương, được hoàn lương của Chí Phèo lại không thẻ trở thành hiện thực bởi cái nhìn của người dân, cái định kiến của người dân làng Vũ Đại mà đã cướp đi cơ hội thành người cuối cùng của Chí. Thị từ chối ở cùng với Chí và mắng chửi Chí làm Chí tuyệt vọng, bi kịch bị cự tuyệt, để trở thành người lương thiện đã khiến hắn đớn đau hơn bi kịch trở thành lưu manh quỷ dữ. Chí Phèo ý thức sâu sắc về thực tại, thân phận biết mà không làm gì được. Chính bởi định kiến xã hội đã cướp đi quyền được thay đổi hướng thiện của một con người.

Và rồi Chí Phèo đã chọn cái chết, đến nhà Bá Kiến giết chết hắn và kết liễu cuộc đời mình. Đó là sự nhầm đường nhưng đúng hướng, đó là lựa chọn duy nhất. Bởi trở lại làm quy dữ không được bởi lương tri đã tỉnh, trở lại làm lương thiện cũng không xong vì đã bị cự tuyệt làm người. Đó là cái chết vừa sảng khoái vừa đau đớn bởi đó là cái giá để trở thành người lương thiện, làm người lương thiện là giá cắt cổ. Bắng cái chết của Chí Phèo Nam Cao ngầm nói với chúng ta sống no đủ trong xã hội cũ đã khó sống lương thiện trong xã hội cũ còn khó lắm thay.

Nhân vật Chí Phèo người nông dân lương thiện nhưng đã bị xã hội phong kiến, địa chủ và chế độ nhà tù phong kiến hà khắc mà đã làm cho người dân ấy bị tha hóa từ một người dân lương thiện trở thành kẻ lưu manh và con quỷ dữ làng Vũ Đại. Từ đó cho chúng ta cách nhìn mới hơn về người nông dân trước cách mạng thấy được con người lương thiện của con quỷ dữ.