Hướng dẫn học sinh lập dàn ý và bài văn mẫu tập làm văn số 3 ngữ văn lớp 11 đề số 3, phân tích nghị luận về vẻ đẹp của người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.

Nguyễn Đình Chiểu được đánh giá là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Với những đóng góp riêng, ông đã mang đến những cảm nhận sâu sắc của mình về người nông dân manh lệ một cách thấm thía sâu sắc. Ông được ví như nhà văn của người nông dân Việt Nam. Với quan niệm văn chương là vũ khí chiến đấu:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đều chứa đựng những ý nghĩa tư tưởng, có tính tuyên truyền, cổ động cao nhưng không sáo rỗng mà rất chân thành. ở đó, hình tượng người nông dân hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc nhưng rất dũng cảm, giàu lòng hi sinh. Đó đâu chỉ là vẻ đẹp của một thời mà ta đã gặp rất nhiều trong thơ văn kim cổ. Vậy thì hôm nay mình sẽ giúp các bạn bài văn nghị luận về vẻ đẹp của người nông dân trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” nhé. với đè bài này các bạn cần chỉ ra những nét mới của Nguyễn Đình Chiểu khi khắc họa vẻ đẹp người nông dân và thể hiện hấy vẻ đẹp của họ vừa mộc mạc nhưng rất dũng cảm, can trường. giàu tinh thần hi sinh. Mời các bạn tham khảo bài làm dưới đây nhé.

LẬP DÀN Ý BÀI VIẾT SỐ 3 LỚP 11 NGHỊ LUẬN VỀ VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG BÀI VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
1.MỞ BÀI:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
Nêu vẻ đẹp của người ngông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

2.THÂN BÀI
  • Người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đẹp vẻ mộc mạc, thầm lặng, chịu thương chịu khó của người nông dân Việt Nam.
  • Cui cút làm ăn.
  • Chỉ biết ruộng trâu, trong làng bộ.
  • Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm.
  • Nhưng họ có lòng yêu nước mãnh liệt, sẵn sàng hi sinh thà chết vinh còn hơn sống nhục.
  • Họ chiến đấu bằng vũ khí thô sơ( hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, gươm đeo bằng lưỡi dao phay..) nhưng vũ khí thô sơ họ vẫn tiêu diệt quân thù một cách hiên ngang.
  • Họ thà chết à đặng câu địch khái, về theo Tổ phụ cũng vinh.
  • Họ quan niệm rạch ròi, khẳng khái: Sống đánh giặc, muôn kiếp được nguyện trả thù kia.
  • Nhưng họ cũng phải chịu đựng vô số những đau đớn, tang thương do sự giày xéo của quân thù.


3. KẾT BÀI:
Khẳng định vấn đề cần nghị luận.

BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu được ví như ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Là một nhà Nho tiết tháo, yêu nước, thơ văn ông đứng hẳn về phía những người chính nghĩa yêu nước đặc biệt là người nông dân hiền lành, lương thiện nhưng tinh thần kiên cường, bất khuất của những người dân đen con đỏ. Tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đã khắc họa thành công vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam một cách đầy bi tráng.

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là bài văn tế đầy xót thương của Nguyễn Đình Chiểu trước số phận bi thương và lòng anh hùng của những người nông dân Việt Nam lúc bấy giờ. Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ đầu tiên xây dựng thành công hình ảnh những người nông dân trong văn học dân tộc, đắp tô tượng đài vĩnh cửu về người anh hùng Nam Bộ tiên phong trong công cuộc chống thực dân Pháp xâm lược. Trước hết qua bài văn tế, người nông dân mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, cần cù quanh năm yên bình gắn bó với ruộng đồng. Họ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ, việc cuốc, việc cày, việc cừa việc cấy đã quen tay trong khi đó việc tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó.

Nhưng chính điều ấy đã làm nổi bật vẻ đẹp thứ hai của người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đó là lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng xả thân vì nước, không tiếc xương máu. Họ thà chết vinh còn hơn sống nhục. Trong khi quân thù có những thiết bị tối tân, hiện đại, đã được tập luyện rèn rũa trận mạc “thằng Tây đạn nhỏ, đạn to” thế mà họ vẫn sẵn sàng xả thân dù ngoài cật có một manh áo vải nào đợi mang bao tấu bầu ngòi trong tay sắm một ngọn tầm vông chi nài sắm dao tu nón gõ. Chiến công lừng lẫy vâng dỗi vẫn thuộc về họ, hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh. Đó là tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự đối lập giữa điều kiện chiến đấu với tinh thần chiến đấu của người nông dân nghĩa sĩ. Họ tuyến bố dõng dạc, hùng hồn rằng “thà chết mà đặng câu đỉnh khái, về theo tổ phụ cũng vinh” hay “sống đánh giặc thác cũng đánh giặc, sống cũng thờ vua, thác cũng thờ vua”. Nếu trước Nguyễn Trãi nhắc đến nhân dân là muốn tỏ ý thấy rằng những người nông dân cần được che chở, bảo vệ thì nay đến Nguyễn Đình Chiểu ông đã nhìn rõ sức mạnh của người nông dân, họ dám vùng lên chiến đấu một cách khảng khái, quyết liệt, và ông cũng là người đầu tiên thấy được đúng đắn và sâu sắc nhất vai trò của người nông dân trong những cuộc kháng chiến. Nhưng bên cạnh vẻ đẹp hào hùng, khí phách hiên ngang lẫm liệt ấy là những nỗi đau, sự mất mát hi sinh của người anh hùng áo vải ấy. “Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây, trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.” những hình ảnh gia định họ chịu đựng nỗi đau thương, trở nên tan tác, xơ xác tội nghiệp “già trẻ hai hàng lụy nhỏ, đau đớn thay mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều, não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”. Chính vì vậy người nông dân nghĩa sĩ hiện lên vừa giản dị, vừa bi tráng. Giọng điệu của nhà thơ thay đổi linh hoạt, khi thì căm hờn giận dữ, khi thì vỗ về an ủi, khi thì hào hùng đầy khí thế.

Cả đoạn văn là tiếng khóc xót thương trước sự hi sinh cao cả của người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc từ đó dựng nên bức tượng đài vĩnh cửu, sừng sững của người nông dân nghĩa sĩ. Đồng thời cũng qua đây, bày tỏ tấm lòng xót thương sâu sắc, sự đồng cảm của Nguyễn Đình Chiểu trước số phận của những người nông dân manh lệ.

BÀI LÀM 2 BÀI VIẾT SỐ 3 LỚP 11 ĐỀ 3 2 BÀI NGHỊ LUẬN VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Trong chiều dài lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã bao lần tổ quốc ta lâm nguy và thời nào cũng thế, cứ hễ tổ quốc bị xâm lăm là nhân dân lại đứng lên can trường mà quyết chiến với quân địch. Đã có biết bao nhiêu máu xương của nhân dân ta đổ xuống để làm dày thêm lớp ngăn bước tiến quân thù và một trong số đó là sự hi sinh quả cảm của những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Vẻ đẹp hình tượng người nông dân đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa vô cùng rõ nét trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.

Hình ảnh của họ hiện lên đầu tiên không có gì là cao lớn mà vô cùng nhỏ bé, giản dị, rất đỗi thân quen:
“Nhớ linh xưa
Côi cút làm ăn,
Riêng lo nghèo khổ,
Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung
Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;
Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.”
Mới đầu họ chỉ là những người nông dân Nam Bộ hết sức bình thường của quê hương, của thửa ruộng, của miếng cơm manh áo. Thậm chí chưa bao giờ biết tới cái gọi là chiến tranh, ngựa hay trường nhung đều là những định nghĩa hết sức xa lạ với họ. Cuộc sống của những người nông dân ấy quanh quẩn với con trâu, thửa ruộng, quanh năm lam lũ, cần cù chịu thương, chịu khó.
Ấy vậy mà, họ chính là những viên ngọc được bọc lớp bùn bên ngoài. Khi có những “kẻ ngoại bang” xâm lăm bờ cõi, họ cũng biết ghét, biết căm:
“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa.
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.”
Rồi họ đâu chỉ biết căm mà còn nung nấu cả trong lòng những ý định muốn đánh đuổi quân cướp nước ra khỏi lãnh thổ khi họ đã ý thức được sự xấu xa của quân thù cũng như nhiệm vụ của bản thân:
“Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình.
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”
Vẻ đẹp của họ cứ dần dần hiện ra bên dưới lớp áo đơn sơ, giản dị. Họ không phải con nhà binh, họ ra trận với một lòng nhiệt huyết xô bồ chứ không phải a bằng sự chuẩn bị kĩ lưỡng về vũ trang thế nhưng lòng những người nông dân chân chất ấy có bao giờ kém tinh thần hơn những chiến sĩ ngoài kia:
“Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi,
Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ
Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.
Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà, mả ái hồn kinh.
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mộ
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm.
Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.”
Ta có thể nhận ra ở những người nghĩa sĩ là lòng quả cảm tuyệt đối, không màng tới tính mạng, chính vì sự chân chất vốn có của một người nông dân mà họ vào trận với tinh thần hăng hái, quyết chiến với quân thù. Lòng họ chỉ hướng về một chiến thắng, hướng về phải tiêu diệt cho bằng sạch những quân gian ác đang làm khổ nhân dân cả nước. Vào trận rồi thì xá gì là tính mạng, xá gì phải từ giã cuộc đời.
Có thể cả đời của những người nghĩa sĩ ấy chưa bao giờ biết đến chính trị, tổ quốc, suốt đời chỉ gắn với mảnh vườn, thửa ruộng nhưng ở họ lại những suy nghĩ khiến cho ai cũng phải khâm phục:
“Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó?
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương?
Vì ai xui hào lũy tan hoang, xiêu mưa ngà gió?
Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh,
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.”
Lòng họ cũng hiểu những điều “chết vinh còn hơn sống nhục” và một lòng biểu lộ tình yêu tổ quốc, sự kính trọng với cha ông ta. Chính vì những lí tưởng cao đẹp ấy mà họ đã hi sinh cho nhân dân, cho tổ quốc máu xương của mình để lại giữa những người ở lại, giữa thiên nhiên, giữa trời đất niềm xót xa khôn tả:
“Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Tây Dương một khắc đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều,
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.”
Quả thực là:
“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,thương vì hai chữ thiên dân.
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.”
Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc là những anh hùng không chỉ là hình tượng mà là những tượng đài vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Bức tượng đài ấy không hề vô hồn mà đẹp đẽ, sống động bởi tất cả khí chất hiên ngang, can trường của một tấm lòng yêu nước cao cả, một sự hi sinh vì tổ quốc, vì chính nghĩa, hình ảnh của họ sẽ còn mãi trong tim mỗi người ở lại.

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu là khúc tráng ca hào hùng ca ngợi vẻ đẹp của những nghĩa sĩ Cần Giuộc, những nghĩa sĩ nông dân chân chất mà can trường, vĩ đại, sinh ra nhỏ bé mà ngã xuống lớn lao. Chính họ là một phần đưa dáng đứng Việt Nam vươn mãi.