Hướng dẫn Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của bác qua 2 bài thơ "Ngắm trăng" và "Đi đường"

Trong tập “Ngục trung nhật kí” tức tập “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, tập thơ sáng tác khi Người bị giam tại nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch vì bị tình nghi là Hán gian, có rất nhiều bài thơ hay và trong chương trình ngữ văn 8, chúng ta sẽ được học hai bài thơ trong số những bài thơ hay đó là “Vọng nguyệt”(Ngắm trăng) và “Tẩu lộ”(Đi đường). Hai bài thơ đều có những nét chung và nét chung nhất đó là thể hiện được tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của Hồ Chủ tịch. Nếu bắt gặp đề bài Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của bác qua 2 bài thơ "Ngắm trăng" và "Đi đường", bạn sẽ giải quyết nó như thế nào. Sau đây là bài làm văn mẫu cho đề bài Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của bác qua 2 bài thơ "Ngắm trăng" và "Đi đường" có tính chất tham khảo. Để làm bài tập này, chúng ta cần chỉ ra tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của Bác thể hiện trong hai bài thơ "Ngắm trăng" và "Đi đường".

BÀI LÀM 1 TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN VÀ TINH THẦN LẠC QUAN CỦA BÁC QUA 2 BÀI THƠ "NGẮM TRĂNG" VÀ "ĐI ĐƯỜNG"
“Đọc một bài thơ là ta bắt gặp tâm hồn một con người”. Đến với thơ Bác, ta sẽ bắt gặp một tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, đặc biệt thể hiện qua hai bài thơ
"Ngắm trăng" và "Đi đường" trích từ tập “Nhật kí trong tù”
Điều đầu tiên có thể nhận thấy đó là tình yêu thiên nhiên của Bác. Bác viết “Nhật kí trong tù” trong hoàn cảnh là một tù nhân bị tình nghi là gián điệp nhưng ngay trong cảnh ngục tù, tâm hồn Người vẫn nhạy cảm, rộng mở chào đón vẻ đẹp của thiên nhiên:
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
(Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ)
Câu thơ mở đầu là sự diễn tả hoàn cảnh mà Bác đang mang, đó là trong ngục, mà trong ngục tối thì “không rượu, không hoa”. Trong tù, điều kiện không có, thì làm sao lại có thể có rượu, có hoa. Thế nhưng trong hoàn cảnh ấy khi “đối” diện với cảnh đẹp thiên nhiên thì thi nhân lại “khó hững hờ”. Có lẽ rằng những thiếu thốn về mặt vật chất trong tù không làm cho tâm trạng trước cảnh đẹp thiên nhiên của người tù giảm đi dù rằng không thể giống như những tao nhân vừa uống rượu, thưởng nguyệt, làm thơ. Thiên nhiên tươi sáng mời gọi con người cùng chung vui khiến cho không một tâm hồn nào có thể “hững hờ” với nó đặc biệt là một tâm hồn yêu thiên nhiên như Hồ Chủ Tịch.
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)
Người thì từ trong nhà lao tăm tối, “hướng” đôi mắt cùng tâm hồn dễ rung cảm của mình lên bầu trời cao rộng bên ngoài qua khung cửa sắt nhỏ để ngắm vẻ đẹp của ánh sáng vầng trăng, còn vầng trăng thì được nhân hóa như một con người biết suy nghĩ, biết ghé vào song sắt để ngắm nhìn thi gia. Đến đây ta có cảm giác trăng và người tuy hai mà một, như những người bạn tri âm tri kỉ có thể tìm đến với nhau dễ dàng dù trong bất kì hoàn cảnh nào. Song sắt nhà tù vô hồn kia chẳng qua chỉ có thể giam giữ thân thể Người chứ không thể giam giữ được tâm hồn Người. Tâm hồn yêu thiên nhiên của Người vẫn cứ tràn đầy một nguồn năng lượng. Đó cũng chính là tinh thần lạc quan, tin tưởng vào ánh sáng của ngày mai tốt lành cho dù đang ở trong bất kì một hoàn cảnh nào đi nữa.
Trong bài thơ “Tẩu lộ”, tình yêu thiên nhiên của Người cũng thể hiện rất rõ ở câu cuối:
Vạn lý dư đồ cố miện gian.
(Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non)
Nếu ba câu thơ đầu, Bác nói về sự khó khăn gian lao trập trùng của việc đi đường thì ở câu thơ cuối cùng, hình ảnh người đi đường đang rất say sưa sảng khoái trong khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp khoáng đạt. Điều ấy thể hiện một tình yêu thiên nhiên sâu sắc của nhà thơ, vẻ đẹp thơ mộng hùng vĩ của thiên nhiên có thể khiến cho mọi mệt nhọc của con người tan biến hết chỉ còn có niềm vui say. Qua đó còn thể hiện tinh thần lạc quan của Người, cho dù trải qua bao nhiêu khó khăn vất vả, nguy hiểm còn trập trùng trước mắt thì Người vẫn có một niềm tin sâu sắc vào một tương lai tương sáng mà con người nhất định sẽ vượt qua và chỉ cần ta vượt qua những sóng gió trước mắt thì mọi chuyện tốt đẹp nhất định sẽ đến.


Ở Bác có trải qua bao nhiêu khó khăn trong bất cứ hoàn cảnh nào không bao giờ mất đi tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, chính nó góp một phần không nhỏ vào những thành công của Bác sau này. Đọc "Ngắm trăng" và "Đi đường", ta thật khâm phục và kính mến biết bao một tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan toát lên từ từng câu chữ.


BÀI VĂN 2: TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN VÀ TINH THẦN LẠC QUAN CỦA BÁC QUA HAI BÀI THƠ “NGẮM TRĂNG” VÀ “ĐI ĐƯỜNG”
Có lẽ từ lâu, với người nghệ sĩ thì thiên nhiên đã trở thành người bạn tri kỉ để thi nhân ta bộc lộ, giãi bày tâm hồn thanh cao hướng thượng, hướng thiện của mình. Có câu “thiên địa nhân nhất thể” phải chăng cũng là muốn nói tới sự hòa hợp ấy. nhưng yêu thiên nhiên, say sưa và hết lòng với thiên nhiên dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt thì đó còn là một tinh thần lạc quan rất đáng ngưỡng mỗ. và thơ Bác, những vần thơ thép chính là sự kết hợp nổi bật giữa tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, đặc biệt qua hai bài thơ”đi đường” và “ngăm trăng” đã biểu hiện rõ điều đó.
Thiên nhiên đã trở thành nơi lưu giữ những mảnh hồn thanh cao, và đạm bạc nhưng vẫn rất đáng ngưỡng mộ của Bác. Thiên nhiên tươi đẹp với trăng hoa, tuyết núi sông chẳng của riêng Bác mà đã trở thành người bnaj tri kỉ của thi sĩ muôn đời, ây thê nhưng bằng tình yêu thiên nhiên của mình, thiên nhiên hiện diện trong thơ Bac vẫn đầy những vẻ đẹp riêng, say mê và cuôn hút.
Trước nhất, thơ Bác đong đầy một tình yêu thiên nhiên rộng lớn. ta thây rât rõ qua bài thơ “ngăm trăng”:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.”
Nêu hai câu thơ đầu là hoàn cảnh, là bản lề để cho người đọc thấy được trong nghịch cảnh đầy thiêu thốn về vật chất nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào, nồng đượm làm sao. Bác vẫn say ưa vơi vầng trăng, vẫn không khỏi chếnh choang vơi vẻ đẹp hữu tình, thơ mộng của thiên nhiên trong đem trăng sáng. Người thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên đã nhanh chóng bị không gian thơ mộng và vầng trăng trong áng, cao khiết kia làm rung động. và chính đó đã trở thành chất xúc tác để nhà thơ viết nên những trang hoa, tờ hoa với tình cảm rung động. vì yêu thiên nhiên tha thiết lắm nên người chiên sĩ ấy mới có thể vẽ nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, sinh động và thơ mộng đến vậy. và ta cũng bắt gặp vẻ đẹp ấy trong “Đi đường”.
“Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”.
Trong những bước đường mệt nhọc, gian truân, nhưng thiên nhiên hùng vĩ vẫn không nguôi ám ảnh và làm rung động tâm hồn nghệ sĩ của người chiến sĩ. Nếu ở “Ngắm trăng” là bức tranh thiên nhiên ngập đầy trăng thơ mộng, trữ tình thì trong bài thơ”Đi đường” thiên nhiên hiện lên đầy hùng vĩ, dữ dội và rộng lớn. qua đấy thấy được thiên nhiên trong thơ Bác mới phong phú, giàu có biết bao.

Nhưng thình yêu thiên nhiên giữa hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, cũng chính là một biểu hiện rất rõ của tinh thần lạc quan. Ta thấy ở trong “ngắm trăng” một người tù thiếu thốn mọi bề về vật chất, nhưng đã quên đi nỗi bất hạnh và thiếu thốn của bản thân để vẫn say sưa với thiên nhiên. Ta cũng nhìn ra một người đi đường mới biết gian lao, núi cao rồi lại núi cao muôn trùng nhưng khi lên đến tận cùng vẫn thỏa sức ngắm nhìn thiên nhiên hùng vĩ. Đó là biểu hiện của tinh thần lạc quan, biết vượt lên trên hoàn cảnh, biết vượt ngục về tinh thần để chiến thắng nghịch cảnh, thăng hoa tâm hồn, lạc quan, ung dung thưởng ngoạn thiên nhiên.

Qua hai bài thơ, một lần nữa chân dung người chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh lại càng được phác họa rõ nét hơn. Đó là vẻ đẹp hài hòa, sinh động và điển hình của trái tim Bác, cũng là thanh nam châm thu hút người đọc mỗi khi tiếp cận thơ Bác. Với tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, thơ Bác quả thực đã đánh thức những rung động tươi đẹp, trong sáng trong tâm hồn người đọc.