kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Huyền thoại TTKH và Hai sắc hoa ty gôn

  1. #1
    Ðến Từ
    Thành phố Bạc Liêu
    Thành Viên Thứ: 1149
    Giới tính: Nam
    Bài gửi
    1.446

    Huyền thoại TTKH và Hai sắc hoa ty gôn


    Hai loại ti gôn hồng và trắng

    Hai sắc hoa ty gôn, huyền thoại lãng mạn gắn bó với Thâm Tâm, một trong những nhà thơ tài hoa mệnh yểu thời tiền chiến. TTKh hay Thâm Tâm là người đầu tiên sử dụng hai chữ "người ấy" và đem hình ảnh "hoa ty gôn" vào trong thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ.
    Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.


    Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn :
    - Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937),
    - Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm,
    - Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).

    Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.




    Hoa ti gôn với hai sắc hồng và trằng

    Ngay khi Hai sắc hoa ty gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng "Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai", chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:
    Anh chép bài thơ tự trái tim
    Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
    Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
    Yên ủi anh và để tặng em.
    Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai ?

    Giọt lệ tương tư mới

    Hai sắc hoa ty gôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa ty gôngiọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành "cổ điển", trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ :
    Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
    Tôi chờ người đến với yêu đương.

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
    Dải đường xa vút bóng chiều phong,
    Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
    Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
    Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
    Bảo rằng:"Hoa, dáng như tim vỡ,
    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"

    Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
    Cánh hoa tan tác của sinh ly,
    Cho nên cười đáp:"Màu hoa trắng
    Là chút long trong chẳng biến suy."

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,
    Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
    Người xa xăm quá ! - Tôi buồn lắm,
    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

    Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
    Mà từng thu chết, từng thu chết,
    Vẫn giấu trong tim bóng "một người".

    Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
    Và đỏ như màu máu thắm pha !

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
    Một mùa thu trước rất xa xôi...
    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi !

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
    Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
    Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
    Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
    Trời ơi! Người ấy có buồn không ?
    Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? (1)


    Người ấy
    Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấy vào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa ty gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy.

    Nhưng TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ "người ấy" và hình ảnh "hoa ty gôn" vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 36 - 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai ? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ :
    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
    Mà từng thu chết, từng thu chết,
    Vẫn giấu trong tim bóng "một người".
    TTKh là ai ?
    Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa ty gôn hai tháng, có những yếu tố xác định rõ hơn về cuộc tình này :
    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
    và nhất là hai câu cuối :

    Biết đâu tôi một tâm hồn héo
    Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.


    Vườn Thanhchồng nghiêm là hai yếu tố gây tranh luận về nơi xẩy ra cuộc tình và tên người chồng. Vườn Thanh ở đâu? Có phải ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh tên là gì ? Có phải là Nghiêm không ?

    Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt :
    Ngoài trời mưa gió xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
    Ai đem lễ giáo giam em
    Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.
    Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:

    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì ?


    Bởi nếu TTKh là người đem chuyện của mình ra viết thành thơ, thì tại sao nàng lại trách ai ? Vậy ai đây là ai ? Nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời hờn giận càng thêm gay gắt:
    Là giết đời nhau đấy biết không ?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.
    Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.

    Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh và 3 bài thơ "trả lời" của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKH của Thâm Tâm có những câu sau đây:
    ...
    Tiếng xe trong vết bụi hồng
    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
    Tiếng xe trong xác pháo xưa,
    Nàng đi có bốn bài thơ trở về
    Tiếng xe mở lối vu qui
    Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
    Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
    Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
    Từ ngày đàn chia đường tơ
    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
    Kéo dài một chiếc áo len
    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
    Nàng còn gỡ mãi trên tay,
    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
    Góp hai thứ tóc đôi đầu,
    Sao còn đan nối những câu tâm tình?
    Khánh ơi còn hỏi gì anh?
    Lá rơi đã hết mầu xanh màu vàng."
    ....
    Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh là gì ? Có phải là những chữ Thâm Tâm - Khánh, viết tắt ? Hay là Tuấn Trình - Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm ?

    Có thể nói hầu hết những nhà biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) ... và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992, tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.

    Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng

    Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là "Nghi án TTKH và Thâm Tâm". Trong bộ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí, văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.

    Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: "Tế Hanh cho biết TTKh chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hoá mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hoá.

    Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh là nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).

    Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: TTKh chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.

    Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý :

    - Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, tại Sài Gòn, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gônBài thơ thứ nhất.

    - Báo Sống ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa ty gôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.

    - Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là "người ấy" của TTKh.

    Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, kết luận :

    TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. Vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.


    Sự xác định của Nguyễn Vỹ

    Nguyễn Vỹ là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Năm 1970, khi Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sàigòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh ra ánh sáng.



    Trang bià quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến và bài viết về TTKh của nhà thơ Nguyễn Vỹ
    (Nguồn : thinhanquangngai.worldpress.com)


    Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.

    Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây :

    Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

    Tôi - tức là Nguyễn Vỹ - tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà "cho vui" vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.
    Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới "Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn".

    Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.

    Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

    Câu chuyện tình

    Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.

    Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán "Hạ mã" và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.

    Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.

    Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.




    Hoa ti gôn hồng (antigonon leptopus)
    (Nguồn : Wikipedia/JM Garg)



    Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

    Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.

    Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.

    Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: "Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm." Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

    Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ "Thầy mẹ em nghiêm lắm" và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.

    Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: "Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?" Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: "Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì..." Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.

    Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm... Tuấn Trình nhận được bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).

    Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu "thơ mộng" của cô với "người nghệ sĩ tài hoa son trẻ", đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất "nghiêm" theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có "bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu", cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v... Cuối thư ký tắt Kh.

    Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.

    Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

    Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

    Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.

    Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.

    Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm Bài thơ cuối cùng ký tên TTKh, với những câu :
    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì ?

    Bài thơ đan áo nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem.
    Là giết đời nhau đấy biết không ?
    Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh em viết dòng dư lệ
    Là chút dư hương điệu cuối cùng.
    Từ nay anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình
    Rồi để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh, cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở :
    Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
    Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
    Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.
    Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ hoạ và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấyhoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKH.


    * Phụ lục

    Bài thơ thứ nhất – TTKh (2)
    Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
    Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
    Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
    Êm ái trao tôi một vết thương.
    Tai ác ngờ đâu gió lại qua
    Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
    Thổi tan tâm điệu du dương trước
    Và tiễn người đi bến cát xa.
    Ở lại vườn Thanh có một mình
    Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
    Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
    Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
    Và một ngày kia tôi phải yêu
    Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
    Những cô áo đỏ sang nhà khác
    Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.
    Từ đấy không mong không dám hẹn
    Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
    Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
    Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.
    Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
    Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
    Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.
    Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
    Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
    Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
    Thì ai trông ngóng chả nên chờ.
    Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
    Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
    “Cố quên đi nhé câm mà nín
    Đừng thở than bằng những giọng thơ”.
    Tôi run sợ viết lặng im nghe
    Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
    Như tiếng chân người len lén đến
    Song đời nào dám gặp ai về.
    Tuy thế tôi tin vẫn có người
    Thiết tha theo đuổi nữa than ôi
    Biết đâu tôi một tâm hồn héo
    Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.
    Đan áo cho chồng – TTKh (3)
    Chị ơi, nếu chị đã yêu
    Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
    Đã xa hẳn quãng đời hương
    Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng
    Hay chăng chị mỗi chiều đông
    Đáng thương những kẻ có chồng như em
    Vẫn còn giá lạnh trong tim
    Đan đi đan lại áo len cho chồng
    Con chim ai nhốt trong lồng
    Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ
    Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
    Hay đâu gió đã sang bờ ly tan
    Tháng ngày miễn cưỡng em đan
    Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng
    Như con chim nhốt trong lồng
    Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao
    Ngoài trời hoa nắng xôn xao
    Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
    Ai đem lễ giáo giam em
    Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời
    Lòng em khổ lắm chị ơi
    Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
    Quang cảnh lạ, tháng năm dài
    Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.
    Bài thơ cuối cùng – TTKh (4)
    Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ ?
    Một mùa thu cũ một lòng đau...
    Ba năm ví biết anh còn nhớ,
    Em đã câm lời có nói đâu!
    Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,
    Càng khơi càng thấy lụy từng khi
    Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
    Mà viết tình em được ích gì?
    Chỉ có ba người đã đọc riêng
    Bài thơ "đan áo" của chồng em
    Bài thơ "đan áo" nay rao bán
    Cho khắp người đời thóc mách xem...
    Là giết đời nhau đấy biết không ?
    ...Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
    Giận anh, em viết dòng dư lệ,
    Là chút dư hương điệu cuối cùng!
    Từ nay anh hãy bán thơ anh
    Còn để yên tôi với một mình
    Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh.
    Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
    Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi...
    Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
    Đi nhớ người không muốn nhớ lời!
    Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,
    Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,
    Nếu không yên được thì tôi ... chết
    Đêm hỡi, làm sao tối thế này ?
    Năm lại năm qua cứ muốn yên
    Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
    Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
    Lại chính là anh? anh của em!
    Tôi biết làm sao được hỡi trời?
    Giận anh không nỡ nhớ không thôi!
    Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt...
    Sợ quá đi, anh... "có một người"!…
    Gửi T.T. Kh. – Thâm Tâm (5)
    Các anh hãy uống thật say,
    Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
    Giờ hình như quá nửa đêm ?
    Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa
    Hơi đàn buồn như trời mưa
    Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
    Giờ hình như ở ngoài trời
    Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.

    Hồn tôi lờ mờ sương khuya
    Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
    Vâng, tôi biết có một người
    Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
    Ðể hôm sau khóc trong lòng
    Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian
    Hôm nay rụng hết lá vàng
    Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
    Tiếng xe trong vết bụi hồng
    Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
    Tiếng xe trong xác pháo xưa,
    Nàng đi có bốn bài thơ trở về.
    Tiếng xe mở lối vu qui
    Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !
    Miệng chồng Khánh gắn trên môi
    Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
    Từ ngày đàn chia đường tơ
    Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
    Kéo dài một chiếc áo len
    Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.
    Nàng còn gỡ mãi trên tay
    Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
    Góp hai thứ tóc đôi đầu,
    Sao còn đan nối những câu tâm tình ?
    Từng năm từng đứa con non
    Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.
    Khánh ơi còn hỏi gì anh?
    Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên
    Em về đan mối tơ duyên
    Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.
    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
    Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
    Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
    Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.
    Nhắc làm chi chuyện đôi ta
    Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi...

    Hãy vui lên các anh ơi
    Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về
    Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
    Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
    Giờ hình như gió thổi nhiều
    Những loài "hoa máu" đã gieo nốt đời.
    Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
    Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh ?
    Sá chi những chuyện tâm tình
    Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.
    (Thụy Khuê)

    http://static.mp3.zing.vn/skins/mp3_main/flash/player/mp3Player_skin1.swf?xmlurl=http://mp3.zing.vn/blog?Mi81Yy8yNWNmYjQ0MmJkODI2ZGNjNTdkN2VlZmRhNjJjM2VjNS5cUIbaBmUsICDN8SGFpIHPhdUngq9jIGhvInagaMEYSB0aSBnw7RdUngfE5oxrAgUXXhdUng7NdUngaHwxfDE

    Quick reply to this message Trả lời       

  2. 5 thành viên đã cảm ơn mit:


  3. #2
    Ðến Từ
    Thành phố Bạc Liêu
    Thành Viên Thứ: 6541
    Giới tính: Nữ
    Bài gửi
    1.272

    Ðề: Huyền thoại TTKH và Hai sắc hoa ty gôn

    bổ sung này:
    T.T.KH là gì?
    T chữ thứ nhất là TRẦN
    T chữ thứ hai là THANH
    KH chữ thứ ba là KHÓC

    KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đờị Tạo hoá chớ trêu kiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

    THANH là Thanh Tâm. là tác giả của bài "Hoa "Ti-gôn"" mà tôi đã nhắc ở trên, Ông hiện cư ngụ tại Hà nội, là người đã tạo cho T.T.KH những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khoc' thương. Người đã mang nặng chữ chung, thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ T.T.KH, với cái hồn của nàng suôt' hơn 50 năm trời đằng đẵng. Môt. người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng
    lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách chơ trêu của tạo hoá, nhưng laị mềm mại, đắng cay trong từng ngòi but' ông buông lơị

    TRẦN là Trần Thị Chung , ( Tên thường goị là Trần Thị Vân Chung ) Sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hoá, Hà Nộị Sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ, Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai ut'. Na*m 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho môt. luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo hoc. tập).

    thêm 1 bài do Nguyễn Bính viết đáp lại T.T.KH :

    DÒNG DƯ LỆ

    (Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
    Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên)
    Tricha thơ T.T.KH


    Gió đưa xác lá về đường
    Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời
    Sầu thương nhuộm lấy hồn tôi,
    Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xăm.

    Một ngàn năm, một vạn năm,
    Con tằm vẫn khiếp con tằm vương tơ.
    Tặng người gọi một dòng thơ
    Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua?

    Đường về Thanh Hoá bao xa
    Bao giờ ra nhớ rủ ta với, Chàng!
    Bảo rằng quan chẳng cho sang
    Ai đời quan cấm đò ngang bao giờ!

    Vườn Thanh qua đấy năm xưa
    Trọ nhờ đêm ấy trời mưa tối trời
    Quanh lò sưởi ấm, bên tôi,
    Bên người lão bộc đương ngồi quay tơ

    Tuổi nàng năm ấy còn thơ
    Còn bao hứa hẹn đợi chờ một mai.
    (Rồi đây bao gió bụi đời,
    Tôi quên sao được con người vườn Thanh)

    Lạnh lùng canh lại sang canh,
    Lòng tôi thao thức với tình bâng quơ.
    Bởi sinh lạc kiếp giang hồ,
    Dám đâu toan tính xe tơ giữa đường.

    Thu sang rồi lại thu sang
    Cúc bao lần nở, lá vàng bao rơi?
    Bao nhiêu vật đổi sao dời?
    Đường bao dặm thẳm! Hỡi người bốn phương!
    Trọ bao nhiêu quán bên đường,
    Nhưng không lần nữa qua vườn Thanh xưa.
    Cô nàng năm ấy quay tơ.
    (Tôi quên sao được!) Hẳn chưa lấy chồng.
    Một hôm lòng lại nhủ lòng:
    Nơi đây giáp với cánh đồng vườn Thanh.
    Rồi tôi len lén một mình,
    Ra đi với một tấm tình hay hay.
    Đường mòn tràn ngập bông may,
    Gió heo báo trước một ngày thu sang.
    Dừng chân trước cửa nhà nàng.
    Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau.
    Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu.
    Lá rơi lả tả bên lầu như mưa...
    Chợt người lão bộc năm xưa,
    Từ đâu mang mảnh guồng tơ lại nhà
    Một hai xin phép ông già,
    Trọ nhờ đêm ấy, nữa là hai đêm.
    Ông già nể khách người quen.
    Ngậm ngùi kể lại một thiên "hận tình"
    Rồi ông kết: (giọng bất bình)
    "Trời cay nghiệp thế cho đành! Thưa ông.
    Cô tôi nhạt cả môi hồng,
    Cô tôi chết cả tấm lòng ngây thơ.
    Đâu còn sống lại trong mơ,
    Đâu còn sống lại bên bờ sông yêu?
    Buồng the sầu sớm thương chiều.
    Khóc thầm biết có bao nhiêu lệ rồi.
    Tơ duyên đến thế là thôi!
    Thế là uổng cả một đời tài hoa.
    Đêm đêm bên cạnh chồng già,
    Và bên cạnh bóng người xa hiện về..."
    Rùng mình tôi lại gạt đi:
    "Già ơi! Thảm lắm! Kể chi dài dòng?
    Cháu từ mắc số long đong,
    Yêu đương chìm tận đáy lòng đã lâu.
    Đau thương qua mấy nhịp cầu,
    Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người!

    "Dối già một chút mà thôi,
    nghe lời già kể cháu mười đêm luôn
    Chợt thương, chợt khóc, chợt buồn,
    Cháu như một kẻ mất hồn, già ơi!"

    Truyện xưa hồ lãng quên rồi,
    Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh.
    Bao nhiêu oan khổ vì tình,
    Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
    Phải chăng? Mình có nên ngờ,
    Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?

    Rắc bướm lên hoa

    Ai đem rắc bướm lên hoa
    Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng?
    Ai đem nhuộm lá cho vàng?
    Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?

    sưu tầm
    ...tôi không phải là loại người kiên nhẫn nhặt những mảnh vỡ đem gắn lại với nhau rồi tự nhủ rằng những vật chắp vá ấy cũng coi như mới.Cái gì đã vỡ là đã vỡ.Và tôi thà nhớ lại khi nó tốt đẹp nhất còn hơn là chắp vá lấy được để rồi suốt đời lại thấy những chỗ vỡ ấy...

  4. Đã cảm ơn songthuy_8x:

    mit 

  5. #3
    Ðến Từ
    Tỉnh Khác
    Thành Viên Thứ: 25706
    Giới tính: Nam
    Bài gửi
    74

    Ðề: Huyền thoại TTKH và Hai sắc hoa ty gôn

    Một chiếc lá nhẹ rơi
    Làm lòng ta xao động
    Một áng mây bềnh bồng
    Lòng ta thấy bâng khuâng

    Một cánh chim đơn lẻ
    Đang bay trong bão giông
    Trời vẫn mưa tầm tã
    Biết nơi nào trú thân ?

    Chiếc lá rơi về cội
    Một cơn gió cuốn đi
    Vô tình rơi xuống nước
    Chiếc lá vẫn thầm thì

    Áng mây bay ngang trời
    Thấp dần tìm lối cũ
    Gió mang mây trôi đi
    Tơ vương mây giăng sợi .

    Còn...Tôi lòng bối dối
    Ngắm sắc hoa tigon
    Buồn cho mùa thu trước
    Chẳng giữ em kề bên
    ....................................


  6. Đã cảm ơn linhgianghn:

    mit